Tổng hợp những câu chuyện bằng tiếng Anh hay

Những câu chuyện bằng tiếng Anh hay mà duhoctms.edu.vn giới thiệu bên dưới bài sẽ giúp các bạn thư giãn sau những giờ học căng thẳng. Ngoài ra, khi đọc những câu chuyện này, bạn cũng có thể học thêm nhiều từ vựng và thành ngữ mới, từ đó trau dồi khả năng viết của bản thân.

1. Sơ lược về truyện bằng tiếng Anh

1.1. Truyện tiếng Anh là gì?

Truyện tiếng Anh: là các câu truyện được viết bằng tiếng Anh (có thể do những người bản xứ viết hoặc được biên dịch từ các ngôn ngữ khác sang tiếng Anh). Đa phần những câu chuyện bằng tiếng Anh hiện nay đều có bản song ngữ để giúp các bạn dễ dàng theo dõi và học tiếng Anh từ những câu chuyện đó.

1.2. Lợi ích của của truyện tiếng Anh

những câu chuyện bằng tiếng anh hay
Lợi ích của của truyện tiếng Anh

Đối với người Việt, những truyện tiếng Anh có rất nhiều công dụng khác nhau, tùy thuộc vào nhu cầu của mỗi người:

  • Giải trí: Đây là chức năng chính của truyện. Nó giúp cho người đọc, cảm nhận, thư giãn đầu óc sau những giờ làm việc mệt mỏi. Những câu chuyện ngắn với ngôn từ vui nhộn, dí dỏm sẽ giúp các bạn giảm bớt điều đó.
  • Học được nhiều từ vựng tiếng Anh: Dựa vào tính chất của mình mà truyện tiếng Anh có khả năng giúp cho người học dễ dàng ghi nhớ các từ vựng một cách hiệu quả và nhanh chóng.
  • Học được nhiều cấu trúc: Truyện tiếng Anh thường có văn phong đúng với giọng văn và phong cách của những người bản xứ. Vì thế, các bạn có thể ghi nhớ các cấu trúc câu này để sử dụng một cách tự nhiên nhất.

2. Tổng hợp những câu chuyện bằng tiếng Anh hay

2.1. The Perfect Heart (Trái tim hoàn hảo)

Truyện tiếng Anh

One day a young man was standing in the middle of the town proclaiming that he had the most beautiful heart in the whole valley. A large crowd gathered and they all admired his heart for it was perfect. There was not a mark or a flaw in it. Yes, they all agreed it truly was the most beautiful heart they had ever seen.

The young man was very proud and boasted more loudly about his beautiful heart.

Suddenly, an old man appeared at the front of the crowd and said “Why your heart is not nearly as beautiful as mine.”

The crowd and the young man looked at the old man’s heart. It was beating strongly, but full of scars, it had places where pieces had been removed and other pieces put in, but they didn’t fit quite right and there were several jagged edges. In fact, in some places there were deep gouges where whole pieces were missing.

The people stared -how can he say his heart is more beautiful, they thought? The young man looked at the old man’s heart and saw its state and laughed.

“You must be joking,” he said. “Compare your heart with mine, mine is perfect and yours is a mess of scars and tears.”

“Yes,” said the old man,” Yours is perfect looking but I would never trade with you. You see, every scar represents a person to whom I have given my love. I tear out a piece of my heart and give it to them, and often they give me a piece of their heart which fits into the empty place in my heart. But, because the pieces aren’t exact, I have some rough edges, which I cherish, because they remind me of the love we shared.

những câu chuyện bằng tiếng anh hay
The Perfect Heart

Sometimes I have given pieces of my heart away, and the other person hasn’t returned a piece of his heart to me. These are the empty gouges -giving love is taking a chance. Although these gouges are painful, they stay open, reminding me of the love I have for these people, I hope someday they may return and fill the space I have waiting. So now do you see what true beauty is?”

The young man stood silently with tears running down his cheeks. He walked up to the old man, reached into his perfect young and beautiful heart, and ripped a piece out. He offered it to the old man with trembling hands. The old man took his offering, placed it in his heart and then took a piece from his old scarred heart and placed it in the wound in the young man’s heart. It fit, but not perfectly, as there were some jagged edges. The young man looked at his heart, not perfect anymore but more beautiful than ever, since love from the old man’s heart flowed into his. They embraced and walked away side by side. How sad it must be to go through life with a whole heart.

Bài dịch tiếng Việt

Có một chàng thanh niên đứng giữa thị trấn và tuyên bố mình có trái tim đẹp nhất vì chẳng hề có một tì vết hay rạn nứt nào. Đám đông đều đồng ý đó là trái tim đẹp nhất mà họ từng thấy. Bỗng một cụ già xuất hiện và nói:

“Trái tim của anh không đẹp bằng trái tim tôi!”. Chàng trai cùng đám đông ngắm nhìn trái tim của cụ. Nó đang đập mạnh mẽ nhưng đầy những vết sẹo. Có những phần của tim đã bị lấy ra và những mảnh tim khác được đắp vào nhưng không vừa khít nên tạo một bề ngoài sần sùi, lởm chởm; có cả những đường rãnh khuyết vào mà không hề có mảnh tim nào trám thay thế. Chàng trai cười nói:

Mỗi vết cắt trong trái tim tôi tượng trưng cho một người mà tôi yêu, không chỉ là những cô gái mà còn là cha mẹ, anh chị, bạn bè… Tôi xé một mẩu tim mình trao cho họ, thường thì họ cũng sẽ trao lại một mẩu tim của họ để tôi đắp vào nơi vừa xé ra. Thế nhưng những mẩu tim chẳng hoàn toàn giống nhau, mẩu tim của cha mẹ trao cho tôi lớn hơn mẩu tôi trao lại họ, ngược lại với mẩu tim của tôi và con cái tôi. Không bằng nhau nên chúng tạo ra những nếp sần sùi mà tôi luôn yêu mến vì chúng nhắc nhở đến tình yêu mà tôi đã chia sẻ. Thỉnh thoảng tôi trao mẩu tim của mình nhưng không hề được nhận lại gì, chúng tạo nên những vết khuyết. Tình yêu đôi lúc chẳng cần sự đền đáp qua lại. Dù những vết khuyết đó thật đau đớn nhưng tôi vẫn luôn hy vọng một ngày nào đó họ sẽ trao lại cho tôi mẩu tim của họ, lấp đầy khoảng trống mà tôi luôn chờ đợi.

Chàng trai đứng yên với giọt nước mắt lăn trên má. Anh bước tới, xé một mẩu từ trái tim hoàn hảo của mình và trao cho cụ già. Cụ già cũng xé một mẩu từ trái tim đầy vết tích của cụ trao cho chàng trai. Chúng vừa nhưng không hoàn toàn khớp nhau, tạo nên một đường lởm chởm trên trái tim chàng trai. Trái tim của anh không còn hoàn hảo nhưng lại đẹp hơn bao giờ hết vì tình yêu từ trái tim của cụ già đã chảy trong tim anh…

2.2. Never fight over trifles

Truyện tiếng Anh

It was high summer. A traveller hired a donkey and set out on a journey. The owner of the donkey was following behind to drive the beast. At mid-day, they decided to take rest for some time but couldn’t find any shady place around. So, the traveler decided to rest in the shade of the donkey. But the owner didn’t let him do so as he himself wanted to sit in its shadow. The trveller said, “How can you refuse me the shadow? I have paid you money after all.” “But you have paid for the ride, not for resting in his shadow”, retorted the owner. So, an argument followed between the two. When the donkey saw that the owner and the hirer were busy fighting, he took to his heels and was soon out of sight.

Bài dịch tiếng Việt

Một mùa hè nóng bức, một người bắt đầu cuộc hành trình của họ với con lừa vừa thuê. Chủ con lừa đi theo sau để điều khiển nó. Đến giữa ngày, họ quyết định nghỉ một lúc nhưng đôi lúc lại không tài nào tìm được nơi râm ráo thích hợp, vì thế cậu thuê con lười đề nghị nghỉ dưới bóng con lừa. Nhưng chủ của nó không để ông ta làm thế vì bản thân ông chỉ muốn mình ngồi trong đấy. “Sao lại không cho tôi nghỉ chung trong bóng của nó? Tôi trả tiền trước đó rồi mà!”, Ông ta cằn nhằn. “Ông chỉ trả tiền để lái nó thôi, không có vụ nghỉ trong bóng của nó”, tên chủ đáp lại. Và một cuộc chiến bằng mồm diễn ra suốt hành trình của họ. Con lừa trông thấy rằng người chủ và ông hành khách có vẻ bận rộn cho cuộc chiến đó, nó liền ngồi dậy và biến đi mất tăm.

2.3. Better bent than broken

những câu chuyện bằng tiếng anh hay
Better bent than broken

Truyện tiếng Anh

Once a huge oak tree stood on the bank of a river. It was well nourished by the water of the river. Naturally, it was very strong and had a thick stem. Just nearby, grew some reeds with thin but flexible stems. They stood almost half in water and had flourished well too. One day, strong winds blew. The tree, though huge and strong, broke from the middle and was thrown across the stream just among the reeds. On the other hand, the tree was very surprised to see that the reeds suffered no harm at all. The oak could not make out the reason of the safety of the reeds and asked them, “How is it that, you being frail and slender, managed to face the gale without any harm. But I, strong enough, have been broken.” The reeds replied, “You were proud of your strength and refused to bend. So, you broke while we bowed and yielded to the gale and were spared.”

Bài dịch tiếng Việt

Một cây sồi lớn mọc trên bờ của một dòng sông. Nó được nuôi dưỡng tốt nhờ nước của dòng sông. Lẽ tự nhiên, nó rất khỏe mạnh và có cành lá rậm rạp. Ở dần đó, mọc vài đám sậy với cành lá mỏng nhưng mềm dẻo. Chúng mọc gần hết một nửa trong nước và cũng mọc sum suê. Một ngày nọ, một cơn gió mạnh thổi đến. Cây cối, dù to lớn và khỏe mạnh, đều bị gãy nửa và bị cuốn vào dòng suối trong những đám sậy. Mặt khác, cây cối đã rất ngạc nhiên khi nhìn thấy những đám sậy không phải chịu một tổn hại nào. Cây sồi không thể đưa ra lý do về sự an toàn của những cây sậy và đã hỏi chúng: ” Bạn đã làm thế nào vậy trong khi bạn yếu ớt và mảnh khảnh lại xoay sở để đối mặt với gió mạnh mà không bị thiệt hại gì. Còn tôi, dù đủ khỏe mạnh, mà vẫn bị gãy”. Lau sậy trả lời: “Bạn tự hào về sức mạnh của mình và từ chối cúi mình. Vì vậy, bạn đã gãy đổ trong khi chúng tôi cúi mình đầu hàng cơn gió mạnh và đã được tha”.

2.4. Who would like this $20 bill?

Truyện tiếng Anh

A well-known speaker started his seminar by holding up a $20 bill. In the room of 200, he asked. “Who would like this $20 bill? “Hands started going up. He said, “I am going to give this $20 to one of you – but first, let me do this.” He proceeded to crumple the 20-dollar note up. He then asked. “Who still wants it?” Still, the hands were up in the air.

“Well,” he replied, “what if I do this?” He dropped it on the ground and started to grind it into the floor with his shoe. He picked it up, now crumpled and dirty. “Now, who still wants it?” Still, the hands went into the air.

“My friends, you have all learned a very valuable lesson. No matter what I did to the money, you still wanted it because it did not decrease in value. It was still worth $20. Many times in our lives, we are dropped, crumpled, and ground into the dirt by the decisions we make and the circumstances that come our way. We feel as though we are worthless; but no matter what happens or what will happen, you will never lose your value. Dirty or clean, crumpled or finely creased, you are still priceless to those who love you. The worth of our lives comes, not in what we do or who we know, but by …WHO WE ARE. You are special – don’t ever forget it.”

Bài dịch tiếng Việt

Một diễn giả nổi tiếng bắt đầu buổi nói chuyện bằng cách đưa ra một tờ 20 đô-la. Trước khán phòng gần 200 người, ông ta hỏi: “Ai muốn lấy tờ 20 đô-la này?”. Rất nhiều cánh tay đưa lên. Ông ta lại nói: “Tôi sẽ cho một người trong số các bạn tờ 20 đô-la này – nhưng trước tiên để tôi làm điều này đã.” Ông ta vò nhàu nát tờ 20 đô-la lại và hỏi: “Các bạn còn muốn nó chứ?”. Vẫn còn rất nhiều cánh tay đưa lên.

“Nếu tôi làm điều này thì sao?”. Ông ta lại nói trong khi thả tờ giấy bạc xuống sàn nhà và dùng gót giày chà lên nó. Đoạn ông ta nhặt nó lên, bây giờ thì nó đã nhàu nát và bẩn thỉu. “Các bạn vẫn còn muốn nó chứ?”. Vẫn còn một vài cánh tay đưa lên.

“Các bạn thân mến, các bạn đã học được một bài học rất giá trị. Bất kể tôi đã làm gì với tờ giấy bạc này, các bạn cũng vẫn muốn có nó bởi vì nó không hề giảm đi giá trị. Nó vẫn là 20 đô-la. Nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta bị bỏ rơi, bị thất bại, bị áp bức bởi những quyết định của chúng ta làm chúng ta rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Chúng ta cảm thấy dường như mình vô dụng; nhưng dù cho có bất cứ điều gì xảy đến, bạn vẫn không bao giờ mất đi giá trị của mình. Dơ bẩn hay sạch sẽ, nhàu nát hay thẳng thớm, bạn vẫn vô giá đối với những người thương yêu bạn. Giá trị của cuộc sống chúng ta không phải ở những gì chúng ta làm, những gì chúng ta biết mà ở chỗ chúng ta là ai. Bạn đừng bao giờ quên điều đó.”

2.5. A coward can’t teach courage

Truyện tiếng Anh

Once there lived a hind in a forest. She had a son who had grown very young and strong. She was very happy to see his stout body and branched strong horns and thought, “stags have powerful horns, why should they be afraid of hounds, wolves then? It’s sheer cowardice. I would never like my son to do it at all.” After some time, the hind’s son came there. The hind wanted to teach him to be courageous. She said, “Son! You have a stout body and strong horns. So, you must not run away from hounds and wolves. Don’t be a coward.” “Ok, mom; I won’t”, said the stag. Just then the mother and the son heard the bark of the hounds. The hind got ready to run away when her son asked her to stay on. She said, “You may, but I have no horns.” Saying so, she ran as fast as she could. The mother herself was a coward and was teaching courage to her son. What a satire!

những câu chuyện bằng tiếng anh hay
A coward can’t teach courage

Xem thêm:

Bài dịch tiếng Việt

Một thuở nọ có một con hươu mẹ ở một khu rừng. Hươu mẹ này có một chú hươu con đực đang lớn mạnh mỗi ngày. Cô ấy rất vui vì đứa con mình có những bắp săn chắc và những nhánh sừng khỏe mạnh và cô ấy suy nghĩ: “loài hươu với những chiếc sừng mạnh mẽ, tại sao chúng ta lại sợ những con chó sẵn và chó sói nhỉ? Đó là một điều tủi nhục. Tôi không bao giờ muốn đứa con tôi trở nên như vậy”. Sau một lúc, hươu con đến. Hươu mẹ muốn dạy hươu con trở nên nên dũng cảm. Hươu mẹ nói:”Con trai! Con có một thân thể mập mạp và bộ sừng khỏe. Vì vậy, con không phải bỏ chạy khỏi chó săn và chó sói. Đừng là một kẻ nhát gan.” “Vâng, mẹ; con sẽ không nhút nhát” hươu con nói. Vừa đúng lúc người mẹ và người con nghe tiếng sủa của chó sói. Con hươu mẹ sẵn sàng chạy thoát khi hươu con yêu cầu mẹ ở lại. Người mẹ nói, “con có thể, nhưng mẹ không có những cái sừng”. Nói xong, hươu mẹ chạy nhanh nhất có thể. Bản thân hươu mẹ là một kẻ nhút nhát và lại dạy hươu con sự dũng cảm. Thật mỉa mai!

2.6. Belling the cat

Truyện tiếng Anh

Long ago, the mice had a general council to consider what measures they could take to outwit their common enemy, the Cat. Some said this, and some said that; but at last a young mouse got up and said he had a proposal to make, which he thought would meet the case. “You will all agree,” said he, “that our chief danger consists in the sly and treacherous manner in which the enemy approaches us. Now, if we could receive some signal of her approach, we could easily escape from her.” “I venture, therefore, to propose that a small bell be procured, and attached by a ribbon round the neck of the Cat. By this means we should always know when she was about, and could easily retire while she was in the neighbourhood. “This proposal met with general applause, until an old mouse got up and said: “That is all very well, but who is to bell the Cat?” The mice looked at one another and nobody spoke. Then the old mouse said: “IT IS EASY TO PROPOSE IMPOSSIBLE REMEDIES.”

Bài dịch tiếng Việt

Đã từ lâu lắm, loài chuột đã tổ chức một hội nghị chung để tính toán xem ở giới hạn nào chúng có thể đối phó với kẻ thù chung, loài mèo. Một số con nói thế này, một số thì bảo thế nọ, cuối cùng có một con chuột nhỏ đứng dậy và hắn đã đưa ra một đề xuất cần làm, mà theo nó đề nghị cần được đáp ứng. “Mọi người đều đồng ý thế này”, nó nói, “nguy hiểm lớn nhất của chúng ta chính là yếu tố ranh mãnh và xảo trá khi kẻ thù tiếp cận chúng ta. Giờ đây, giá như chúng ta có thể nắm bắt được tín hiệu tiếp cận của kẻ thù, chúng ta có thể dễ dàng tẩu thoát.” “Chính vì vậy, tôi xin mạo muội đề nghị kiếm một cái lục lạc nhỏ, và đính với một cái nơ quanh cổ của con mèo. Bằng giải pháp này, lúc nào chúng ta cũng biết được kẻ thù ở đâu và dễ dàng rút lui khi hắn đang ở gần.” Lời đề nghị này được mọi người tán thán, đến khi một con chuột già đứng dậy và nói: “Đề nghị đấy tốt thôi, nhưng ai sẽ đeo lục lạc cho mèo?” Bọn chuột nhìn nhau từng con một và không ai nói lời nào. Rồi lão chuột nói: “THẬT DỄ DÀNG KHI ĐƯA RA GIẢI PHÁP BẤT KHẢ THI”

2.7. The rat and the elephant

Truyện tiếng Anh

A Rat was traveling along the King’s highway. He was a very proud Rat, considering his small size and the bad reputation all Rats have. As Mr. Rat walked along—he kept mostly to the ditc —he noticed a great commotion up the road, and soon a grand procession came in view. It was the King and his retinue. The King rode on a huge Elephant adorned with the most gorgeous trappings. With the King in his luxurious howdah were the royal Dog and Cat. A great crowd of people followed the procession. They were so taken up with admiration of the Elephant, that the Rat was not noticed. His pride was hurt.

“What fools!” he cried. “Look at me, and you will soon forget that clumsy Elephant! Is it his great size that makes your eyes pop out? Or is it his wrinkled hide? Why, I have eyes and ears and as many legs as he! I am of just as much importance, and” But just then the royal Cat spied him, and the next instant, the Rat knew he was not quite so important as an Elephant. A resemblance to the great in some things does not make us great.

Bài dịch tiếng Việt

Một con chuột đang đi dọc trên con đường lớn của nhà vua. Nó rất tự hào về ngoại hình nhỏ bé của mình và tiếng tăm xấu xa tất cả bọn chuột đều có. Khi chuột đi nó đi ngang qua nhiều vũng nước. Bỗng nó thấy rung động mạnh trên đường và ngay sau đó một đám diễu hành xuất hiện trước mắt. Đó là nhà vua và đoàn tùy tùng của người. Nhà vua cưỡi trên lưng một con voi rất to được trang hoàng với bộ đồ lộng lẫy. Cùng với nhà vua trên chiếc bành voi sang trọng là con mèo và con chó quý  tộc. Đám đông người theo sau đoàn diễu hành. Họ có vẻ rất coi trọng con voi và con chuột thì không được chú ý tới. Sự tự hào của nó bị tổn thương.

Thật ngu ngốc, nó kêu khóc. “nhìn tôi đây, và anh sẽ sớm quên con voi vụng về đó! Có phải là vì ngoại hình to của nó đã khiến con mắt ngài để ý tới? Hay là làn da nhăn nheo của nó? Tại sao, tôi cũng có tai, có mắt và cũng có nhiều chân như nó! và tôi cũng quan trọng chứ. Nhưng ngay sau đó con mèo quý tộc đã đánh hơi được con chuột, và chỉ trong chốc lát con chuột biết rằng nó không quan trọng bằng con voi.
Cùng có chung những điểm tương đồng nhưng chúng ta không giống nhau.

2.8. The jay and the peacock

Truyện tiếng Anh

A Jay venturing into a yard where Peacocks used to walk, found there a number of feathers which had fallen from the Peacocks when they were moulting. He tied them all to his tail and strutted down towards the Peacocks. When he came near them they soon discovered the cheat, and strid-ing up to him pecked athim and plucked away his borrowed plumes. So the Jay could do no better than go back to the other Jays, who had watched his behaviour from a distance; but they were equally annoyed with him, and told him: ‘It is not only fine feathers that make fine birds.’

Bài dịch tiếng Việt

Có một chàng chim giẻ cùi bạo gan đi vào một khoảnh sân phơi những chú công thường hay đi tản bộ, và nhận thấy có khá nhiều lông rụng ra từ những chú công khi chúng đang độ thay áo. Chằng gắn hết chúng vào sau đuôi rồi nghênh ngang đi giễu vòng thẳng về hướng những chú Công. Rồi lũ Công cũng sớm phát hiện ra kẻ giả mạo khi chàng tiến đến ngày càng gần, chúng sải bước về phía chàng, mổ lia lịa vào chàng rồi ngoạm nhổ hết tùm long mà chàng vay mượn. Thế là chàng chim giẻ cùi không còn cách nào khác, đành quay trở lại với thế giới của những chú chim giẻ cùi, những kẻ đã quan sát hành động của chàng từ nãy giờ ở đằng xa; nhưng chúng tỏ ra khá khó chịu với chàng, chúng bảo chàng: ‘Chẳng phải cứ có lông vũ đẹp là thành chim đẹp được đâu.’

2.8. Cost of the bell

những câu chuyện bằng tiếng anh hay
Cost of the bell – Những câu chuyện bằng tiếng Anh hay

Truyện tiếng Anh

Everyday, a shepherd used to take his cows for grazing. He had tied a bell to each of the cows he had so that he could know where they were grazing. The best cow had a costly bell tied around her neck. One day, a stranger was going through the pasture. Seeing the costly bell around the cow’s neck, he went to the shepherd and asked if he would sell the bell. Out of greed, the shepherd sold the bell. But now he could not know where his best cow was grazing. On getting an opportunity, the stranger
stole the cow. Thus, the shepherd lost his best cow just because of his greed.

Bài dịch tiếng Việt

Mỗi ngày, người chăn cừu dẫn bò của anh ta đi ăn cỏ. Anh gắn chuông cho mỗi con bò để biết được chúng đang ở đâu. Con bò tốt nhất được đeo một cái chuông đắt nhất quanh cổ. Một ngày nọ, một người lạ đi qua đồng cỏ. Nhìn thấy cái chuông có giá trị trên cổ con bò, anh ta đi đến chỗ người chăn cừu và đề nghị ông ta bán cái chuông. Vì lòng tham, người chăn cừu đã bán cái chuông. Nhưng bây giờ ông ta lại không biết con bò của ông ấy đang ở đâu. Có được cơ hội, người lạ đã ăn cắp con bò. Vì vậy người chăn cừu đã mất con bò tốt nhất chỉ vì lòng tham của mình.

2.9. The mischievous dog

Truyện tiếng Anh

There was once a Dog who was so ill natured and mischievous that his Master had to fasten a heavy wooden clog about his neck to keep him from annoying visitors and neighbors. But the Dog seemed to be very proud of the clog and dragged it about noisily as if he wished to attract everybody’s attention. He was not able to impress anyone. “You would be wiser,” said an old acquaintance, “to keep quietly out of sight with that clog. Do you want everybody to know what a disgraceful and ill-natured Dog you are?” Notoriety is not fame.

Bài dịch tiếng Việt

Có lần chú chó quá xấu tính và tinh nghịch đến nỗi chủ của nó phải đeo cho nó một cái còng cổ rất nặng để ngăn nó không làm phiền du khách và hàng xóm. Nhưng dường như chú chó rất tự hào về cái còng và kéo nó đi rất ồn ào như muốn gây chú ý đến mọi người. Nhưng nó không gây ấn tượng được với ai. “Bạn phải khôn ngoan lên”, một người quen cũ nói, “hãy giữ yên lặng khi ở ngoài với cái còng. Bạn muốn mọi người biết bạn là một chú chó đáng hổ thẹn và xấu tính sao?” Tai tiếng không phải là sự nổi tiếng.

2.10. Never tellalie

Truyện tiếng Anh

On his deathbed, a father advised his son to always speak the truth. The son promised that he would never tell a lie. One day, while going to the city through a forest, he got surrounded by some robbers. One of them asked, “What do you have?” The boy answered, “I have fifty rupees.” They searched for him but couldn’t find anything. When they were about to go, the boy called out, “I am not telling a lie. See this fifty rupee note which I had hidden in my shirt.” The leader of the robbers felt pleased at the truthfulness of the boy, gave him hundred rupees as reward and went away.

Trong giờ phút cuối đời của mình, người cha đã khuyên con trai ông ấy phải luôn nói thật. Người con hứa rằng anh ấy sẽ không bao giờ nói dối. Một ngày nọ, trong khi đi đến thành phố thông qua khu rừng, cậu bé bị bao quanh bởi những tên cướp. Một trong số chúng hỏi “mày có cái gì?” Anh ta trả lời: “Tôi có 50 đồng rupi” Họ lục soát người anh ta nhưng không tìm thấy bất kỳ thứ gì. Khi họ chuẩn bị bỏ đi, cậu bé gọi họ lại: ” Tôi không nói dối. Nhìn này 50 đồng rupi tôi giấu trong áo này”. Thủ lĩnh băng cướp cảm thấy hài lòng về tính thật thà của cậu bé, ông ta cho cậu bé 100 đồng rupi như một phần thưởng và bỏ đi

2.11. The crow and the pitcher

Truyện tiếng Anh

In a spell of dry weather, when the Birds could find very little to drink, a thirsty. Crow found a pitcher with a little water in it. But the pitcher was high and had a narrow neck, and no matter how he tried, the Crow could not reach the water. The poor thing felt as if he must die of thirst. Then an idea came to him. Picking up some small pebbles, he dropped them into the pitcher one by one. With each pebble the water rose a little higher until at last it was near enough so he could drink. “In a pinch a good use of our wits may help us out.

Bài dịch tiếng Việt

Vào một đợt khô hạn, khi các loài chim chỉ có thể tìm thấy rất ít nước để uống,một con quạ khát nước đã tìm thấy một cái bình trong đó có một ít nước. Nhưng cái bình thì cao và có cái cổ hẹp, và dù cho quạ ta có cố gắng sao đi chăng nữa thì nó cũng không thể chạm được tới nước trong bình. Nó cảm nhận một điều tệ hại nếu nó phải chết vì khát. Sau đó, một ý tưởng thoáng lên trong nó. Nó nhặt lên vài viên sỏi nhỏ và thả từng viên một vài cáu bình chứa nước. Cứ mỗi viên sỏi thì nước lại dang lên cao hơn cho đến cuối cùng đã gần đủ để nên nó có thể uống. “Trong một trường hợp cấp thiết thì sự bình tĩnh sẽ giúp chúng ta vượt qua những sự cố.”

2.12. The two crabs

Truyện tiếng Anh

One fine day two Crabs came out from their home to take a stroll on the sand. “Child,” said the mother, “you are walking very ungracefully. You should accustom yourself to walking straight forward without twisting from side to side.” “Pray, mother,” said the young one, “do but set the example yourself, and I will follow you.” “Examples is the best precept”

Bài dịch tiếng Việt

Một ngày đẹp trời hai con cua đi ra khỏi nhà để đi dạo trên cát. “Này con gái” cua mẹ nói, “Con đang đi rất thiếu duyên dáng đấy. Con nên tập dần cho quen để đi thẳng hướng đừng đi ngang như thế”. “Mẹ hãy thử trước” cua con nói, “Làm một ví dụ từ chính mẹ và con sẽ làm theo” “Ví dụ là lời dạy bảo tốt nhất.”

2.13. The Goose with the Golden Egg

những câu chuyện bằng tiếng anh hay
The Goose with the Golden Egg

Xem thêm:

Truyện tiếng Anh

One day a countryman going to the nest of his Goose found there an egg all yellow and glittering. When he took it up it was as heavy as lead and he was going to throw it away because
he thought a trick had been played upon him. But he took it home on second thoughts, and soon found to his delight that it was an egg of pure gold. Every morning the same thing occurred, and he soon became rich by selling his eggs. As he grew rich he grew greedy; and thinking to get at once all the gold the Goose could give, he killed it and opened it only to find, nothing. Greed often overreaches itself.

Bài dịch tiếng Việt

Một ngày nọ, một người nông dân tìm đến ổ của con ngỗng và thấy một quả trứng vàng sáng bóng. Ông cầm quả trứng lên xem thì thấy nó nặng như chì và quẳng nó đi vì ông nghĩ đây là một trò đùa dành cho mình. Nhưng nghĩ lại ông bèn mang nó về nhà và vui sướng khi nhận ra rằng đây là quả trứng bằng vàng nguyên chất. Mỗi sáng điều tương tự này đều xảy ra và ông ta sớm trở nên giàu có bằng việc bán những quả trứng vàng. Khi càng giàu có thì lòng tham cũng lớn dần lên, ông nghĩ cách để có tất cả trứng vàng của con ngỗng trong một lần, ông giết con ngỗng, mổ bụng nó để tìm trứng vàng nhưng không có gì trong đó cả. Tham quá thì thâm.

2.14. Poor or rich

Truyện tiếng Anh

One day, a rich dad took his son on a trip to a poor village. He wanted to show his son how the people in the village lived. They spent time on a farm of one of the poorest families. At the end of the day, the dad asked: “Did you see how poor they are? What did you learn?”

The boy answered: “We have a dog, they have four. We have a pool, they have a river. We buy food and they grow theirs. We have walls to protect us, they have friends.”

After they left, the boy wanted to tell his dad the truth. “Well, thanks for showing me how poor we are”, said the boy.

After they left, the boy wanted to tell his dad the truth. “Well, thanks for showing me how poor we are”, said the boy.

Bài dịch: Nghèo hay giàu

“Ngày nọ, một người bố giàu có đưa con trai mình đi thăm một ngôi làng nghèo. Ông muốn cho con trai mình thấy người dân làng sinh sống như thế nào. Họ đã dành thời gian ở trên trang trại của một gia đình nghèo. Đến cuối ngày, người bố hỏi: “Con có thấy họ nghèo như thế nào không? Con đã học được gì?”

Cậu bé trả lời: “Chúng ta có một con chó, họ có bốn con. Chúng ta có một bể bơi, họ có cả con sông. Chúng ta mua thức ăn, còn họ tự làm ra thức ăn. Chúng ta có những bức tường để bảo vệ chúng ta, họ có những người bạn”.

Sau đó họ rời đi. “Cảm ơn bố đã cho con thấy nhà ta nghèo như thế nào”, cậu bé nói.

2.15. The wish of 3 friends

Truyện tiếng Anh

Three guys stranded on a desert island find a magic lantern containing a genie, who grants them each one wish. The first guy wishes he was off the island and come back home. The second guy wishes the same. The third guy says: “I’m lonely. I wish tow friends were back here.”

Bài dịch: Điều ước của ba người bạn

“Ba người đàn ông bị mắc kẹt trên hoang mạc. Họ tìm thấy một chiếc đèn ma thuật, trong đó có một ông thần đèn. Ông thần cho mỗi người một điều ước. Người đàn ông đầu tiên ước mình thoát khỏi sa mạc và trở về nhà ngay lập tức. Người thứ hai ước điều tương tự. Người thứ ba nói: “Tôi cô đơn quá. Tôi ước hai người bạn của mình quay lại đây ngay”.

2.16. The boy and the barbershop

Truyện tiếng Anh

A young boy enters a barbershop and the barber whispers to his customer. “This is the dumbest kid in the world. Watch while I prove it to you.” The barber puts a dollar bill in one hand and two quarters in the other, then calls the boy over and asks, “Which do you want, son?” The boy takes the quarters and leaves. “What did I tell you?” said the barber. After, when the customer leaves, the man sees the young baby coming out of the ice cream store. He said, “Hey, baby boy! Can I ask you a question? Why did you choose the quarter instead of the dollar bill?” The boy licked his cone and replied, “Because the day I take the dollar, the game is over!”

Bài dịch: Cậu bé và người thợ cắt tóc

Một câu bé vào cửa hàng cắt tóc và người thợ cắt tóc thì thầm vào tai khách hàng: “Đây là thằng bé ngớ ngẩn nhất trên thế giới. Xem nhé tôi sẽ chứng minh cho ông thấy”. Sau đó người thợ đưa ra một tờ đôla và đồng xu nửa đô rồi bảo cậu bé: “Cháu thích bên nào hơn con trai?”. Cậu bé cầm lấy đồng xu và rời đi. “Thấy chưa, tôi đã nói với ông rồi”, người thợ cắt tóc nói.

Sau đó, người khách hàng cũng rời đi và gặp cậu bé đang đi ra từ hàng kem. “Này con trai. Ta có thể hỏi con một câu hỏi không? Tại sao con chọn đồng xu thay vì tờ một đôla?”. Cậu bé vừa liếm kem vừa trả lời: “Vì vào cái ngày mà cháu lấy tờ một đôla, trò chơi sẽ kết thúc”.

2.17. The snail’s slow speed

những câu chuyện bằng tiếng anh hay
The snail’s slow speed

Truyện tiếng Anh

A guy is sitting at home when he hears a knock at the door. He opens the door and sees a snail on the porch. He picks up the snail and throws it as far as he can 3 years later, he heard a knock on the door again. He opens the door and sees the snail. This snail says, “What the hell was that all about?”.

Bài dịch: Độ chậm của ốc sên

Một chàng trai đang ngồi trong nhà thì nghe tiếng gõ cửa. Anh ta mở cửa và thấy một con ốc sên ở trước hiên nhà. Anh nhặt con ốc sên và ném nó xa nhất có thể. Ba năm sau, anh ta lại nghe thấy tiếng gõ cửa khi đang ngồi trong nhà. Lần này mở cửa, anh ta lại thấy con ốc sên năm nào. Con ốc sên tức giận nói: “Anh làm cái quái gì vậy hả?”

2.18. What is the afterlife like?

Truyện tiếng Anh

Sidy and Irve are business partners. They made a deal that who dies first will contact other the living one from the afterlife. So Irve dies. Sidy doesn’t hear from him for about a year, figures there is no afterlife. Then one day he gets a call. It’s Irv. “So there is an afterlife! What’s it like?” Sid asks. “Well, I sleep very late. I get up, have a big breakfast. Then I have sex, lots of sex. Then I go back to sleep, but I get up for lunch, have a big lunch. Have some more sex, take a nap. Huge dinner. More sex. Go to sleep and wake up the next day.” “Oh, my God,” says Sid. “So that’s what heaven is like?” “Oh no,” says Irv. “I’m not in heaven. I’m a bear in Yellowstone Park.”

Bài dịch: Thế giới bên kia trông như thế nào?

Sid và Irv là đối tác kinh doanh. Họ thỏa thuận rằng một trong hai người, ai chết trước sẽ liên lạc với người còn lại từ thế giới bên kia. Rồi một ngày Irv chết. Sid không nhận được lời nhắn nhủ nào trong suốt một năm sau đó, nên nghĩ rằng chắc chẳng có cái gì gọi là thế giới bên kia.

Rồi một ngày, anh ta nhận được cuộc điện thoại. Đó là Irv. “Vậy là có thế giới bên kia. Nó trông như thế nào?”, Sid hỏi. “Ồ, tớ ngủ rất muộn. Khi tỉnh dậy, tớ ăn bữa sáng khổng lồ, rồi làm tình rất nhiều. Sau đó tớ lại đi ngủ và khi thức giấc ăn bữa trưa khổng lồ, rồi lại làm tình, rồi lại ngủ trưa. Rồi một bữa tối khổng lồ, rồi lại làm tình. Rồi lại đi ngủ và thức giấc vào ngày hôm sau”. “Ôi trời ơi”, Sid thốt lên. “Hóa ra là thiên đường là như vậy”. “Ôi không”, Irv nói. “Không phải tớ đang ở thiên đường. Tớ đang là một con gấu ở Vườn quốc gia Yellowstone”. 

2.19. The crow and the vase

Truyện tiếng Anh

In a spell of dry weather, when the Birds could find very little to drink, a thirsty Crow found a pitcher with a little water in it. But the pitcher was high and had a narrow neck, and no matter how he tried, the Crow could not reach the water. The poor thing felt as if he must die of thirst. Then an idea came to him. Picking up some small pebbles, he dropped them into the pitcher one by one. With each pebble the water rose a little higher until at last it was near enough so he could drink. “In a pinch a good use of our wits may help us out.”

Bài dịch: Con quạ và cái bình

Vào một đợt khô hạn, khi các loài chim chỉ có thể tìm thấy rất ít nước để uống, một con quạ khát nước đã tìm thấy một cái bình trong đó có một ít nước. Nhưng cái bình thì cao và có cái cổ hẹp, và dù cho quạ ta có cố gắng sao đi chăng nữa thì nó cũng không thể chạm được tới nước trong bình. Nó cảm nhận một điều tệ hại nếu nó phải chết vì khát. Sau đó, một ý tưởng thoáng lên trong nó. Nó nhặt lên vài viên sỏi nhỏ và thả từng viên một vài cáu bình chứa nước. Cứ mỗi viên sỏi thì nước lại dang lên cao hơn cho đến cuối cùng đã gần đủ để nên nó có thể uống. “Trong một trường hợp cấp thiết thì sự bình tĩnh sẽ giúp chúng ta vượt qua những sự cố.”

2.20. Shy people cannot teach courage

Truyện tiếng Anh

Once there lived a hind in a forest. She had a son who had grown very young and strong. She was very happy to see his stout body and branched strong horns and thought, “stags have powerful horns, why should they be afraid of hounds, wolves then? It’s sheer cowardice. I would never
like my son to do it at all.”

After some time, the hind’s son came there. The hind wanted to teach him to be courageous. She said, “Son! You have a stout body and strong horns. So, you must not run away from hounds and wolves. Don’t be a coward.”

“Ok, mom; I won’t”, said the stag. Just then the mother and the son heard the bark of the hounds. The hind got ready to run away when her son asked her to stay on. She said, “You may, but I have no horns.”

Saying so, she ran as fast as she could. The mother herself was a coward and was teaching courage to her son. What a satire!

Bài dịch: Kẻ nhút nhát không thể dạy sự dũng cảm

những câu chuyện bằng tiếng anh hay
Shy people cannot teach courage

Một thuở nọ có một con hươu mẹ ở một khu rừng. Hươu mẹ này có một chú hươu con đực đang lớn mạnh mỗi ngày. Cô ấy rất vui vì đứa con mình có những bắp săn chắc và những nhánh sừng khỏe mạnh và cô ấy suy nghĩ: “loài hươu với những chiếc sừng mạnh mẽ, tại sao chúng ta lại sợ những con chó sẵn và chó sói nhỉ? Đó là một điều tủi nhục. Tôi không bao giờ muốn đứa con tôi trở nên như vậy”.

Sau một lúc, hươu con đến. Hươu mẹ muốn dạy hươu con trở nên nên dũng cảm. Hươu mẹ nói:”Con trai! Con có một thân thể mập mạp và bộ sừng khỏe. Vì vậy, con không phải bỏ chạy khỏi chó săn và chó sói. Đừng là một kẻ nhát gan.”

“Vâng, mẹ; con sẽ không nhút nhát” hươu con nói. Vừa đúng lúc người mẹ và người con nghe tiếng sủa của chó sói. Con hươu mẹ sẵn sàng chạy thoát khi hươu con yêu cầu mẹ ở lại. Người mẹ nói, “con có thể, nhưng mẹ không có những cái sừng”

Nói xong, hươu mẹ chạy nhanh nhất có thể. Bản thân hươu mẹ là một kẻ nhút nhát và lại dạy hươu con sự dũng cảm. Thật mỉa mai!

Trên đây duhoctms.edu.vn đã giới thiệu đến các bạn 20 truyện tiếng Anh hay, ý nghĩa và dễ đọc cho những người mới bắt đầu. Tuy nhiên còn rất nhiều câu chuyện khác mà các bạn có thể tham khảo giúp cho vốn từ vựng của mình được cải thiện hơn. Nếu các bạn có câu chuyện nào hay nữa thì có thể giới thiệu ở phía dưới bình luận để cho mọi người cùng biết nhé!

Bình luận

Bình luận